Friday, July 14, 2017

Trao đổi của các chuyên gia về thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông


Text Box: Ảnh: Xuân QuỳnhÔng Trịnh Lê Nguyên - GĐTrung tâm Con người và Thiên nhiên điều hành buổi làm việc

Ngày 26/6 tại Hà Nội đã diễn ra cuộc trao đổi về vấn đề phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông giữa các chuyên  gia  hoạt  động trong các lĩnh vực thủy lợi, nông nghiệp,  đa dạng sinh học, thể chế chính sách v.v... do Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam, Trung tâm Con người và Thiên nhiên đồng tổ chức. Cuộc trao đổi này xuất phát từ thực tế quá trình “Thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận (PNPCA) của các công trình thủy điện trên dòng chính Mê Kông”thời gian qua chưa được triển khai một cách thực chất. Hơn thế nữa, việc thực thi PNPCA chưa mang nhiều ý nghĩa này lại được đặt trong bối cảnh đang tiến tới xây dựng cơ chế pháp lý và kỹ thuật hợp tác Mê Kông - Lan Thương.
Việt Nam nằm ở hạ lưu Mê Kông, có vị thế quan trọng trong cấu trúc chính trị, kinh tế, văn hóa và quan hệ cộng đồng xã hội rộng rãi với các quốc gia trong lưu vực, bên cạnh đó rất dễ bị tổn thương dưới tác động tiêu cực của các đập thủy điện. Do vậy, với phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh, Việt Nam sẽ tham góp như thế nào,  để việc khai thác   tài nguyên nước sông Mê Kông của các quốc gia thượng nguồn nhận được sự đồng thuận cao giữa các nước, nhằm tạo ra sự ổn định và phát triển bền vững lưu vực Mê Kông.

TS. Đào Trọng Tứ - Trưởng ban điều hành Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam đã tóm lược tình hình phát triển thủy điện Mê Kông, trong đó nhấn mạnh tác động tiêu cực do việc quá trình phát triển thủy điện tại thượng nguồn phía Trung Quốc đã gây ra, đồng thời đưa ra các nguy cơ nếu đập Pak Beng tại Lào và Sambor tại Căm – Pu - Chia tiến hành xây dựng.

PGS.TS. Lê Anh Tuấn – thành viên Hội đồng Mạng lưới cũng bày tỏ các quan ngại khi các con đập thượng nguồn không chỉ ảnh hưởng tới 20 triệu dân sống tại ĐBSCL, con số thực tế sẽ là 60 triệu người hiện đang phụ thuộc vào nguồn lương thực từ vựa lúa lớn nhất cả nước này.

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất được thảo luận trong cuộc họp là vấn đề nhìn nhận lại vị thế của Việt Nam trong các chương trình tham vấn của MRC và điều mà chúng ta có thể làm trong bối cảnh hiện nay. Các chuyên gia khẳng định, Việt Nam cần kiên định và tích cực trong việc thúc đẩy, hỗ trợ, hợp tác và phối hợp các hoạt động chương trình chung, nhằm thực hiện Hiệp định 1995. Bên cạnh đó, các phương án liên quan đến việc chủ động xây dựng chiến lược thích ứng dài hạn, chủ động ứng phó với vấn đề tài nguyên nước, đưa thủy điện trên dòng chính Mê Kông vào vấn đề hợp tác kinh tế trong khu vực, v.v... cũng được các chuyên gia đề cập và phân tích.

Thời gian tới, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, tiếp  tục tập hợp ý kiến đóng góp của các chuyên gia và công chúng để xây dựng bản kiến nghị gửi đến  các  bộ, ngành liên quan, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam và MRC. Vì vậy, chúng tôi hoan nghênh và mong nhận được sự quan tâm của quí vị cùng các bạn. Những  ý kiến,  mọi sự chia sẻ liên quan đến vấn đề phát triển thủy điện trên sông Mê Kông xin gửi đến hộp thư điện tử: rivervietnam@gmail.com.

Xuân Quỳnh Ban thư ký VRN

Campuchia cấm xuất khẩu cát vĩnh viễn




Thứ Sáu, 14/7/2017
Singapore đã sử dụng nguồn cát từ Campuchia trong suốt nhiều nằm qua để phục vụ cho việc mở rộng lãnh thổ...

Tàu hút cát tren sông Andoung Teuk ở Campuchia - Ảnh: Mother Nature Cambodia/BBC.

Campuchia vừa công bố lệnh cấm xuất khẩu cát vĩnh viễn, chính thức chấm dứt việc bán cát cho Singapore - quốc gia đã sử dụng nguồn cát từ Campuchia trong suốt nhiều nằm qua để phục vụ cho việc mở rộng lãnh thổ.
Theo hãng tin BBC, các nhóm bảo vệ môi trường nói rằng việc đào và hút cát đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái ven biển của Campuchia. Năm ngoái, nước này công bố lệnh cấm xuất khẩu cát tạm thời, nhưng các nhà hoạt động môi trường cho rằng hoạt động đào hút cát vẫn tiếp diễn.

Số liệu của Liên hiệp quốc cho thấy Singapore đã nhập khẩu hơn 72 triệu tấn cát từ Campuchia kể từ năm 2007. Trong khi đó, Chính phủ Campuchia nói rằng Singapore chỉ nhập khẩu 16 triệu tấn cát từ nước này trong cùng khoảng thời gian.
Từ khi giành độc lập vào năm 1965, Singapore đã mở rộng diện tích được hơn 20%. Đảo quốc sư tử cũng xem việc mở rộng lãnh thổ thông qua bồi lấp là một chiến lược chủ chốt để đáp ứng dân số ngày càng tăng.

Cát là vật liệu chủ chốt cho hoạt động bồi lấp, nhưng những dự án gần đây của Singapore đã bất đầu thử nghiệm những kỹ thuật mới đòi hỏi sử dụng ít cát hơn. Ngoài ra, các dự án bồi lấp của Singapore được thi công bởi các nhà thầu tư nhân - những công ty phải tuân thủ các quy định về nhập khẩu cát, trong đó có cả các biện pháp bảo vệ môi trường.

Phát ngôn viên Meng Saktheara thuộc Bộ Khai khoáng và Năng lượng Campuchia nói rằng lệnh cấm xuất khẩu cát vĩnh viễn mà nước này vừa ban hành là câu trả lời đối với những lo ngại về môi trường. “Những lo ngại đó là chính đáng và rủi ro là rất lớn, bởi vậy chúng tôi quyết định cấm xuất khẩu cát và hoạt động đào hút cát quy mô lớn”, ông Meng nói.
Trước Campuchia, nhiều quốc gia khác cũng đã ban hành nhiều loại lệnh cấm xuất khẩu cát khác nhau. Chẳng hạn, Malaysia ban lệnh cấm xuất khẩu cát vào năm 1997, còn Indonesia công bố lệnh cấm xuất khẩu đất pha cát sang Singapore vào năm 2007.

Các tổ chức môi trường hy vọng rằng lệnh cấm sẽ chấm dứt việc buôn bán cát, hoạt động mà họ cho là gây tổn hại cho môi trường trong nhiều năm trời.
“Tôi cho rằng lệnh cấm sẽ tạo ra sự khác biệt. Các công ty khai thác cát sẽ khó mà xuất khẩu cát được nữa”, ông Alejandro Gonzalez-Davidson, một nhà hoạt động thuộc nhóm Mother Nature, phát biểu.
Ông Gonzalez-Davidson nói thêm rằng sự chú ý của giới truyền thông và các nhà hoạt động môi trường đối với hoạt động buôn bán cát hiện nay sẽ khiến các công ty khó có thể bất chấp lệnh cấm.




Tình trạng thiếu nước ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

28 March, 2016


Ks Nguyễn Minh Quang
(trích)

Kết luận: Tuy chưa là cao điểm của mùa khô 2016, tình trạng hạn hán và xâm nhập của nước mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã lên đến mức báo động.  Các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam đều cho rằng “các hồ chứa thượng lưu” là nguyên nhân “chi phối chủ đạo.”
Dữ kiện lưu lượng của Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) cho thấy các đập thủy điện trên dòng chánh Mekong ở Trung Hoa hay trên phụ lưu trong hạ lưu vực Mekong không phải là nguyên nhân. Cũng không phải do hạn hán (hay thay đổi khí hậu) vì ĐBSCL hiện đang ở trong mùa khô. 



(Một trong) “Thủ phạm” chính là việc gia tăng sử dụng nước sông Mekong của Lào, Thái Lan, và Cambodia; lên đến 2.991 m3/sec tức 49% lưu lượng sông Mekong tại Kratié.  Đó là chưa kể lượng nước do Cambodia sử dụng cho các dự án thủy nông ở hạ lưu Kratié.



 Việc gia tăng sử dụng nước sông Mekong của Lào, Thái Lan, và Cambodia không phải là nguyên nhân duy nhất. 



Tình trạng thiếu nước hiện nay ở ĐBSCL, thực sự, bắt nguồn từ chánh sách phát triển thiển cận ở ĐBSCL, nguyên tắc “mạnh ai nấy làm” trong lưu vực Mekong, và việc quản lý nguồn nước thiếu khoa học kéo dài từ năm 1975 cho đến nay.
Để cứu hạn mặn ở ĐBSCL, chánh phủ Việt Nam đã yêu cầu Trung Hoa xả nước sông Mekong từ đập Cảnh Hồng, nhưng trên thực tế, biện pháp nầy “quá ít và quá trễ. ”

Biện pháp thực tiễn và khả thi cấp thời là:
(1) sử dụng khôn ngoan số nước hiện có để cứu vãn diện tích lúa Đông-Xuân chưa bị thiệt hại và
(2) tránh tối đa việc “lấy ngọt chống hạn” để giảm thiểu sự xâm nhập của nước mặn và duy trì nguồn nước ngọt cho các thành phố như Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh và Mỹ Tho.

Các biện pháp ngắn hạn có thể bao gồm việc:
(1) thực hiện hệ thống đo đạc lưu lượng và độ mặn dùng cho việc quản lý nguồn nước,
(2) giảm bớt số lượng nước dùng cho nông nghiệp trong vùng chịu ảnh hưởng của nước mặn, và
(3) nghiên cứu khả thi việc sử dụng các hồ thủy điện hiện có trên Cao nguyên miền Trung cho mục đích thủy nông.

Các biện pháp dài hạn có thể bao gồm:
(1) thay đổi chánh sách phát triển ĐBSCL,
(2) “cải tạo” hệ thống thủy lợi hiện nay cho phù hợp với chánh sách phát triển mới,
(3) “phục hồi” các nguyên tắc của Ủy ban Quốc tế Mekong (Mekong Committee (MC)) 1957 và điều lệ của Thông cáo chung 1975, và
(4) thương thảo với các quốc gia thượng nguồn để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trong việc phát triển sông Mekong.

(Lá thư Úc châu)
(Tác giả là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của Tiểu bang California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972; Trưởng ty Kế hoạch của Ủy ban Quốc gia Thủy lợi thuộc Bộ Công chánh và Giao thông đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Cao học Thủy lợi tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ năm 1985; Chuyên viên Thủy học (Hydrologist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles).